Quy luật phổ biến của đô thị hoá và siêu đô thị TP.HCM

Quy luật phổ biến của đô thị hoá và siêu đô thị TP.HCM

Quy luật phổ biến của đô thị hoá và siêu đô thị TP.HCM

Quy luật phổ biến của đô thị hoá và siêu đô thị TP.HCM

Quy luật phổ biến của đô thị hoá và siêu đô thị TP.HCM

Quy luật phổ biến của đô thị hoá và siêu đô thị TP.HCM

23/06/2021

Đô thị hóa có quy luật không? Trước nay giới chuyên môn hay nói  tới quá trình đô thị hóa, ít thấy nói tới quy luật của đô thị hóa. Đã là quy luật thì sự tác động một cách chủ quan của con người sẽ có 1 trong 2 xu hướng : thúc đẩy hay kìm hảm. Bài viết này sẽ là một cố gắng đi tìm quy luật của đô thị hóa và chứng minh rằng TP Hồ Chí Minh là một siêu đô thị và Megacity TP Hồ Chí Minh sẽ là một megacty lớn của châu Á. Đây là đầu đề để giải bài toán quy hoạch TP HCM.

 

  1. Các quy luật mang tính phổ biến của đô thị hóa.

Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mối sự vật hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Theo trình độ tính phổ biến có quy luật riêng - quy luật chung - quy luật phổ biến.

  1. Đô thị hóa mang tính quy luật.

Các tài liệu thống kê của các nước trên thế giới đều cho thấy tỷ lệ dân cư sống trong các đô thị ngày càng tăng, dân số nông thôn ngày càng giảm. Như vậy có thể nói đô thị hóa mang tính quy luật phổ biến của các nước trên thế giới. Không có một nước nào có thể làm ngược quy luật này. Tuy nhiên trong lịch sử cũng đã có những cố gắng của một số chính quyền đi ngược lại quy luật này. Ví dụ theo “vi.wikipedia” cách mạng văn hóa tại Trung Quốc đã đẩy khoảng 12 đến 20 triệu người tại các đô thị đi lao động nặng nhọc ở nông thôn, trong số này có khoảng  5,4 triệu Hồng vệ binh, khoảng 1 triệu người dân Thượng Hải, tức là 18% dân số của thành phố lúc đó. Hay Campuchia  sau năm 1974 khi giành được chính quyền chế độ Ponpot đã đẩy hàng triệu người Campuchia ra khỏi các đô thị để xây dựng “Chủ nghĩa Xã hội nông nghiệp” ở các vùng nông thôn. Các cuộc sụt giảm đô thị hóa đó chỉ kéo dài được một số năm, sau đó chính quyền mới đã khôi phục trở lại,  quy luật của đô thị hóa tiếp tục tiếp diễn.

  1. Tỷ lệ đô thị hóa và phát triển kinh tế mang tính quy luật.

Theo thông kê năm 1960 và năm 2016 của United Nations Population Division’s World Urbanization Prospects, tỷ lệ dân cư đô thị trên toàn thế giới khoảng 51%. Tỷ lệ này được phân loại theo các nhóm nước như sau:  Nhóm nước thu nhập cao : 64 và 81; Nhóm nước thu nhập trung bình : 24 và 49; Nhóm nước thu nhập thấp : 12 và 31.

Như vậy, tỷ lệ đô thị hóa cũng mang tính quy luật phổ biến trên thế giới. nước càng nghèo tỷ lệ đô thị hóa thấp, nước càng giàu tỷ lệ đô thị hóa càng cao. Nước ta năm 2013, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 33%[1] vửa rời khỏi các nước nghèo.

Theo nghiên cứu của Andréa Alves Araújo[2] (Đại học liên bang Rio de Janeiro) hầu hết các nước tư bản phát triển đã đạt tỷ lệ đô thị hóa rất cao và có xu hướng đang ổn định ở mức giữa 80 và 90, mặc dù một số đã vượt quá 90.

  1. Phát triển siêu thành phố mang tính quy luật.

Siêu thành phố hay thành phố cực lớn là thành phố có dân số trên 10 triệu người. Theo Paul Bairoch[3] năm 1850, toàn thế giới có 2 thành phố có dân số trên 1 triệu người là London (2,3 triệu) và Paris (1,3 triệu), tới năm 1900, London có dân số 6,6 triệu người, Paris và New York có dân số trên 3 triệu và 6 thành phố khác có dân số trên 1 triệu.

Theo Neal Lineback and Mandy Lineback Gritzner[4] năm 2050 có 2 thành phố có trên 10 triệu dân là New York và Tokyo, năm 1995 con số đó lên 14, năm 2017 tăng lên 22, dự báo đến năm 2025 con số đó sẽ tăng lên 30 hoặc hơn.

Theo Worldalas năm 2016, thế giới có 34 thành phố có dân số trên 10 triệu người. TP HCM đứng thứ 38 khoảng 8,9 triệu người.

Như vậy, việc phát triển siêu thành phố cũng mang tính quy luật phổ biến.

  1. Phát triển thành phố cực lớn (Megaloplis)[5] mang tính quy luật.

Một chỉ số quan trọng khác của thành phố cực lớn là vùng ngoại vi xung quanh. Thành phố cực lớn phát triển bao giờ cũng kéo theo sự phát triển của các vùng xung quanh tạo nên các megalopolis. Phần lớn các thành phố có dân số trên 10 triệu, sẽ hình thành dân số của các megacity từ 1,5 đến 2 lần. Một số megacity tiêu biểu là:

+ Megaloplis New York từ Boston tới Washington bờ biển phía Đông Nước Mỹ- dân số 49 triệu năm 2000. Dự kiến 58 triệu đến năm 2005.

+Cửa sông Châu Giang Megalopolis: Hong KongShenzhenDongguanGuangzhouFoshanJiangmenZhongshanZhuhaiMacauHuizhou 55,000,000 người, nếu cộng thêm khu vực Quảng Châu 70,000,000 người

+ Lưu vực hạ lưu sông Hoàng Phố Megalopolis :ShanghaiNanjingHangzhouNingboSuzhou,     JingjiangWuxi,   ChangzhouZhenjiang.v.v…  . (88,000,000)

+ Megapolis Maharashtra - 1.Mumbai  , Aurangabad,  Solapur,  Nashik,  Ahmednagar,  Alibag(39,500,000).

+ Mega Java : Jakarta, BandungSurabayaYogyakartaBekasiBogorDepokMalangSemarangTasikmalayaTangerangCirebon 50 triệu người

+ Mega Manila : 40 triệu dân.

Như vậy Megalopolis cũng mang tính quy luật phổ biến đối với nhiều nước.

Khu vực TP HCM có thể có 2 tên gọi- megalopolis TP HCM hay lưu vực hạ lưu sông Đồng Nai (TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vùng Tàu). Lưu vực này hiện có khoảng 15 triệu dân.

 

  1. Siêu đô thị TP Hồ Chí Minh không thể tránh .

Theo thống kê dân số TP HCM năm 2015 khoảng 8,5 triệu người. Nếu tính theo cách của tỉnh Bình Dương có cộng thêm dân nhập cư hộ khẩu KT1, KT2, KT3, dân số thành phố khoảng 12 triệu. Theo nguồn tin đang tin cậy, số lượng người dân tham gia bỏ phiếu bầu HĐND các cấp, thành phố có khoảng 7,2 triệu cửa tri. Tính thêm dân số phụ thuộc, dân số thành phố theo việc làm hàng năm trên 12 triệu người. Theo các tiêu chuẩn chung của thế giới – số lượng người làm việc trên 6 tháng  thì TP HCM đã là siêu đô thị.

Vấn đề đang đặt ra là dân số TP HCM có tiếp tục phát triển nữa không hay là chỉ dừng lại quy mô 10 triệu? câu trả lời là tiếp tục phát triển với các lý do sau đây:

  1. Về lý luận :
  • Sức mạnh kinh tế của các thành phố có quy mô dân số lớn.

+ Hơn một trăm năm trước đây Ph. Angghen đã viết” Sự tập trung khổng lồ đó, sự tập trung của cả hai triệu rười người vào một chổ (Anghen ám chỉ thành phố London có sô dân 2,5 triệu người vào cuối thế kỷ 19) đã làm cho lực lượng của cả khối hai triệu rưỡi người ấy mạnh thêm gấp trăm lần”[6].

+ Adam Smith “ số người lao động càng nhiều, sự phân công của họ càng tỷ mỷ” nên “ hai mươi triệu người trong một xã hội lớn chung sức hợp tác có thể sản xuất ra vật phẩm gấp 1 nghìn lần so với xã hội có 2, 3 triệu người”[7].

+ Nhà kinh tế học K. Mera[8] khẳng định rằng  “nếu mục tiêu của quốc gia là tạo được mức tăng trưởng giá trị sản xuất cao nhất thì việc khuyến khích phi tập trung vốn đầu tư và phân bố dân cư là không thể ưu tiên , đặc biệt là đối với các nước đang phát triển”.

  • Hiệu quả tổng hợp của nền kinh tế tập trung.

+ Tập hợp và tập trung  phương tiện cho hiệp tác sản xuất , phối hợp và phân công chuyên nghiệp. Tài liệu nước ngoài cho biết khả năng 1 thiết bị lọc dầu từ 3 triệu tấn mở rộng ra 8 triệu tấn có thể giảm đầu tư 24%, giảm tiêu hao kim lọai 47%, nâng cao năng suất lao động gấp 3,4 lần; dung lượng nhóm máy phát điện tuabin khí từ  300.000 kw mở rộng lên 600.000kw có thể giảm giá thành máy phát điện 15-20%.

+ Sự phát triển xí nghiệp sản xuất tập trung tất yếu sẽ tạo ra “nguyên lý bội số” thúc đầy sự phát triển một loạt xí nghiệp phối hợp và dịch vụ văn hóa, đời sống, từ đó không ngừng mở rộng quy mô dân số đô thị.

+ Tập hợp và tập trung  có lợi cho sử dụng tài nguyên công cộng, nguồn năng lượng, nguồn nước đô thị có lợi cho việc sử dụng giao thông công cộng và các cơ sở dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ xã hội khác. Đây là nguyên nhân quan trọng của cơ chế phát triển đô thị.

+ Tập hợp và tập trung có thể tăng cường tiếp xúc xã hội, thuận tiện cho việc giao tiếp, trao đổi giao lưu kinh tế, có thể có tác dụng học hỏi lẫn nhau và kích thích cạnh tranh. C Mác từng viết” Ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đẻ ra thi đua, cũng kích thích nguyên khí (animal Spirit) làm tăng năng xuất cá nhân của từng người riêng rẽ”[9]. Phương thức tập trung dân số với sự phát triển kinh tế hàng hóa có thể dần dần phá hủy mọi quan hệ và tư tưởng kinh tế tự nhiên, đóng cửa, làm cho ngày càng có nhiều người mất tính độc lập, tăng thêm tính phụ thuộc vào xã hội. Nó làm cho mọi người cần phải không ngừng tìm kiếm phương thức thích hợp tiếp tục tiến hành tập trung và trao đổi lẫn nhau.

+ Tập hợp và tập trung có thể tiết kiệm rất nhiều đất đai, tiết kiệm vốn đất.

+ Tập hợp và tập trung có thể giảm khỏang cách và rút ngắn thời gian vận tải, thuận tiện cho cung ứng nguyên vật liệu và đưa hàng hóa ra thị trường, tiết kiệm nhiều chi phí lưu thông.

  • Hiệu quả cụ thể về năng suất lao động liên quan tới thu nhập của giới lao động.

+ Tại Trung Quốc đã có thống kê và đánh giá về hiệu ích giá trị sản xuất bình quân đầu người tính theo bình quân dân số đô thị như sau: đô thị trên 2 triệu: 5572,67 NDT, đô thị từ 1-2 triệu: 4536,53 NDT; đô thị từ 0,5- 1 triệu : 4181,58 NDT; đô thị từ 200.000- 500.000 người : 4126,28 NDT; đô thị dưới 200.000 người : 3113,85 NDT. Nếu lấy bình quân đầu người đô thị 4401,86 NDT là 100 thì mức tương đối của các đô thị các lọai từ lớn tới nhỏ trên là 103,06; 95,00; 93,74; 70,74

 

  1. Về thực tiển: thành phố có đủ cơ sở để phát triển thành thành phố có 15 -20 triệu dân đến năm 2050.
  • Việt nam đang có tỷ lệ đô thị hóa khoảng 35% và vừa thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo. Quyết định số 445/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 “ Năm 2015, dự báo dân số đô thị cả nước khoảng 35 triệu người, chiếm 38% dân số đô thị cả nước; năm 2020, dân số đô thị khoảng 44 triệu người, chiếm 45% dân số đô thị cả nước; năm 2025, dân số đô thị khoảng 52 triệu người, chiếm 50% dân số đô thị cả nước”.  Theo dự báo trên, dân số đô thị Việt Nam đến năm 2025 khoảng 52 triệu người tăng thêm 17 triệu người so với năm 2015. Nếu trừ số dân tăng tự nhiên tại các đô thị, sẽ có khoảng 14 triệu người  từ nông thôn sẽ tới các đô thị đến năm 2025. Như vậy khoảng 14 triệu người đó sẽ di cư về đâu? Nếu  6 triệu người nông thôn miền Bắc và bắc Trung bộ có thể di cư tới các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng, 8 triệu dân nông thôn Nam trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông cửu Long sẽ tới đâu?   Kinh nghiệm 20 năm qua cho thấy, đa số người di cư hướng tới TP HCM và vùng xung quanh.
  • TP HCM không thể ngăn các doanh nghiệp mới đầu tư vào thành phố. Theo quy luật nhiều nhà đầu tư về sản xuất công nghiệp hay dịch vụ đều tìm thấy lợi nhuận đầu tư tại thành phố đông dân do:  thị trường tiêu thụ lớn, giao lưu và giao thông trong nước và quốc tế thuận lợi, nguồn vốn và khoa học công nghệ dễ  tiếp cận, có sẵn lực lượng lao động chất lượng cao.v.v…..  
  • TP HCM đã quy hoạch 3.6000 hecta đất công nghiệp trong đó chưa đầy 50% đã được cho thuê. 1,8 ngàn hecta còn lại sẽ thu hút thêm bao nhiều lao động công nghiệp, dịch vụ và người ăn theo? Đó là chưa kế tới thành phố đang xin chính phủ tăng quỹ đất phát triển khu, cụm công nghiệp tập trung.
  • TP Hồ Chí Minh đang xây dựng thành phố “đáng sống”, “nghĩa tình” liệu có ngăn được dòng nhập cư đang muốn tới các nơi có việc làm ổn định, thu nhập cao hơn nhiều tại quê hương nông thôn đang bị bảo lủ, hạn, xâm nhập mặn.v.v….

 

  1. Cần một tầm nhìn mới về dự báo phát triển dân số TP HCM .
  1. Quy hoạch chung TP HCM năm 2010 đã dự báo sai về một số chỉ tiêu quan trọng.

Theo quyết định 24/QĐ –TTg ngày 06-01-2010 của Thủ Tướng Chính Phủ (TTCP), phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung TP Hồ Chí Minh,  dân số TP HCM đến năm 2025 khoảng 10 triệu người, khách vãng lai 2,5 triệu người.

Cũng theo quyết định trên “Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất sẽ trở thành điểm trung chuyển hàng không của khu vực và thế giới; cải tạo, nâng công suất khoảng 20 triệu hành khách/năm… Xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành (tỉnh Đồng Nai) với công suất 100 triệu hành khách/năm”.

Vấn đề là chỉ mới năm 2017 ( còn 8 năm nữa mới tới năm 2025) nhưng dân số thành phố đã vượt qua con số 10 triệu của mốc quy hoạch năm 2025. Nhiều chỉ số  của cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã vượt qua các chỉ tiêu đã được phê duyệt trong đó hành khách qua sân bay Tân Sơn Nhất đã cán mốc 25 triệu so với 20 triệu của quyết định phê duyệt tới năm 2025.

  1.  Cái áo của 10 triệu dân đã chật, cần may thêm áo mới.

Để có áo mới cần có tầm nhìn sau đây:

  • Đánh giá tương đối chính xác dân số thực sự đang sống và làm việc tại TP HCM trong đó có lao động và người phụ thuộc không có hộ khẩu chính thức. Nếu có số lượng lao động theo thời vụ (dưới 6 tháng) có thể tính quy đổi. Không nên lấy số 10 triệu đến năm 2025 theo quyết định phê duyệt để tính toán cho hạ tầng của thành phố.
  • Dự báo dân số và sự phát triển của các ngành một cách khoa học và hợp lý. Không ngại thành phố là một siêu đô thị.
  • Trên cơ sở dự báo đó mới tính toán được nhu cầu hạ tầng kỷ thuật và hạ tầng xã hội đồng thời định hướng được không gian phát triển đô thị của thành phố.    

 

Thay lời kết: Đô thị hóa có quy luật – quy luật phổ biến. TP Hồ Chí Minh cũng sẽ nằm trong quy luật đó với siêu đô thị và megacity TP Hồ Chí Minh.

TS.KTS. Nguyễn Thiềm (Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển TP.HCM)

 

---------------------------------------------------------------

[1] Bộ Xây dựng (2013), Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012-2020; Tài liệu phục vụ Hội nghị triển khai Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012-2020, Hà Nội ngày 26 tháng 12 năm 2013

[2] What is the trend of urbanization in developed countries, e.g. USA, European countries, Canada or Japan?

[3] Paul Bairoch, Cities and Economic Development- From the dawn history to the present, do Christopher Braider dòch ra tieáng Anh, the University of Chicago Press, 1985.

[4] Geography in the NewsTM

[5] Thành phố cực lớn” là một khái niệm về phân loại các đô thị của các nhà nghiên cứu về đô thị - thành phố nhỏ, thành phố trung bình, thành phố lớn, thành phố cực lớn. Nhà nghiên cứu Doxciadis người Hy Lạp ( trước 1975 có một số phương án quy hoạch về Thủ Thiêm và Sài Gòn), trong cuốn Ekistics (hiện nay là tạp chí Ekistics)  đã phân các đô thị thành Eopolis, Polis, Metropolis, Megalopolis, Necropolis. Nhiều nước đang sử dụng cách phân loại này để đánh giá, phân tích và phân loại đô thị . Trong phân loại này, Eopolis là thị trấn nông nghiệp, Polis là thành phố trung bình, Metropolis có nghĩa là thành phố “Mẹ” có các “con” là các đô thị vệ tính xung quanh. Megalopolis là đô thị cực lớn khi mà sự phát triển không gian của nó đã “tràn qua” nhiều đô thị xung quanh.

[6] C.Mac và Ph.Angghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội, 1995 t 2, tr 358

[7] Trích lại từ GS Nhiệu Hội Lâm, người dịch Lê Quang Lâm, Nxb chính trị quốc gia, hà Nội 2004.

[8] Koichi  Mera, On the urban agglomeration and economic efficiency, trong cuốn Systems of cities- reading an structure, growth and policy do L. S. Bourne và I. W. Simmons biên tập, Oxford Univercity Press, 1978, P446.

[9] Mác và Ph. Angghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, T.23, tr 474